Sunday, 6 December 2009

“Ngày đó có ta, mơ ân tình dài”

buồn thắm nét môi, duyên chưa thành lời một thoáng mơ rồi, người về khôn nguôi! người về khôn nguôi!...

(Thanh Trang – Duyên Thề)

(Kh 7: 9)

Nếu bảo rằng, “ngày đó có ta”, thì “mơ ân tình” của người nghèo cũng dài thêm. Rất nhiều. Quả thật, đây cũng là câu nói không đến nỗi quá đáng. Bởi, mơ ân tình của sơ/của Mẹ Têrêxa thành Calcutta được người người cho là rất dài. Quảng đại. Lại rất lớn lao. Cần lưu ý.

Trong đời người, có những sự kiện tưởng như đơn giản, nhưng đã làm nhiều người phấn khởi. Cộng thêm vào việc làm “cần lưu ý”, là những hành xử và lời nói của vị nữ tu mọn hèn ở Calcutta, đã làm “trời đất nổi cơn ghen tức”, những bứt rứt. Bằng vào việc làm đơn lẻ, nhẹ nhàng, Mẹ Têrêxa đã thuyết phục mọi người. Bằng câu truyện nhỏ, kể như sau:

“Đêm nọ, ở Calcutta, chúng tôi bảo nhau ra đường để lượm lặt những hình hài gầy guộc, mà người ta bỏ rơi bên hè phố. Hôm ấy, tôi gặp một phụ nữ đang trong tình trạng nguy cập, sắp chết rồi. Tôi nói với các nữ tu cùng đi, hãy để tôi chăm sóc cho bà ấy, cho hết tình đồng loại. Khi đặt nằm, bà đã nắm chặt lấy tay tôi, mở một nụ cười rất tươi mà tôi chưa bao giờ được thấy trên khuôn mặt của ai khác. Nụ cười tinh tế. Nhẹ nhàng. Vời vợi. Cười với tôi, bà cất lên lời thì thào chỉ một tiếng “cảm ơn.” Xong đâu đó, bà trút hơi thở cuối cùng, bên tay tôi.”(Labastida, One Heart Full Of Love, Servant Books Michigan)

Truyện kể, về công việc của các nữ tu hèn mọn, như Mẹ Têrêxa Calcutta, ta nghe rất nhiều. Truyện nào cũng nhẹ. Cũng có khuyên răn. Kể lể. Nhưng, vẫn thu hút người nghe. Rất nhiều. Như:

“Ta hãy cho đi. Hãy ban phát tình yêu, mình đã lãnh nhận rồi cho mọi người xung quanh. Hãy cứ cho đi. Cho mãi, để việc cho đi như thế sẽ trở thành động tác hy sinh. Cho, là vì tình yêu đích thực luôn đòi hỏi chúng ta, ra như thế.” (Labastida, sđd)

Và, thêm một truyện khác, để minh xác điều mà Mẹ Têrêxa Calcutta muốn khích lệ mọi người:

“Ngày nọ, có cậu bé chừng 4 tuổi, ở Ấn Độ. Cậu cùng với bố mẹ đến đem cho tôi một tách uống nước gồm toàn đường cát trắng. Cậu đưa tách cho tôi, rồi nói: ‘Em nhịn miệng số đường này, đã 3 ngày. Xin Bà hãy lấy phần đường của em, mà mang cho các em nhỏ của Bà, đang thiếu thốn.” (Labastida, sđd)

Những truyện kể nhè nhẹ như thế, vẫn phản ánh được điều mà nghệ sĩ ở trên, đã từng viết:

“Một vì sao sáng, trong đêm lặng lẽ

nhạc buồn sao vắng mênh mông trần thế

ánh mắt sáng ngời, lòng trời u tối

không gian xa vời…” (Thanh trang – bđd)

Không gian và thời gian của những người tất bạt/bần hàn, chừng như vẫn còn rời xa/xa vời, ghê gớm lắm. Hoạ chăng, cũng “năm thì mười hoạ” chỉ mới được có cậu bé nhỏ, lo nhớ đến. Nhớ đến, để rồi nhịn miệng cho đi, chỉ một tách chén ngọt ngào những đường phèn. Vị ngọt của đường, vẫn là sự ngọt ngào thân thương đem đến cho bạn nghèo, những buồn xa vắng. Mênh mông. Trần thế. Bởi thế nên, mới có giòng nhạc chân tình, rày vẫn gửi:

“Tìm đến với nhau, cho quên hận sầu

Ngày đó lứa đôi, vui duyên tình đầu

mộng ước tan rồi, để buồn mai sau…để buồn mai sau!” (Thanh Thrang – bđd)

Buồn mai sau. Hay, buồn dài dài hôm nay, chốn mai ngày, vẫn là nỗi buồn không tên. Không tuổi. Rất lai láng. Lai và láng, trong/ngoài nhà Đạo, rất Hội thánh. Lai và láng, vẫn như ước nguyện của đấng bậc lành thánh, từng kêu lên:

“Xin quý vị và các bạn hãy nguyện cầu cho chúng tôi, để chúng tôi không làm hỏng việc của Thiên Chúa giao. Để, chúng tôi sẽ cùng với quý vị và các bạn, cứ tiến thẳng về phía trước, cho công cuộc này. Bởi, Thiên Chúa vẫn giao cho tôi -cho quý vị, và các bạn- cũng một việc như thế. Bởi thế nên, xin tất cả mọi người, hãy cùng với chúng tôi, ta cùng nhau làm một cái gì đó, cho Thiên Chúa.” (Labastida, sđd)

Trích dẫn mẩu truyện nho nhỏ trên đây, là để muốn nói với bạn và với tôi, rằng: thế gian này. ngày hôm nay, vẫn có những “vì sao sáng” le lói trong đêm lạnh giá, đời nghèo/buồn. Một đời, cần đến tình thương. Cần đến, những vì sao sáng. Rất thánh. Như đấng-bậc-lành-thánh, rất Têrêxa, ở Calcutta. Bên ta.

Trích và dẫn, để còn được hỏi. Hỏi rằng, đấng bậc rất lành và thánh ấy, có còn nhiều? Các đấng bậc tốt lành, được phong thánh, từ hồi nào? Ra sao? Kể, để học hỏi, như thắc mắc của độc giả nọ không biết có lành và thánh không, nhưng cứ hỏi. Hỏi, và được trả lời cũng nhè nhẹ, như sau:

“Tôi vẫn biết vào lễ “Tất cả các thánh” ta vẫn có thói quen cử hành mừng kính tất cả mọi đấng, ở trên trời. Nhưng, có thể nào, xin kể cho chúng tôi nghe, đôi điều, về lịch sử của ngày lễ? Lễ như thế, được mừng được kính lâu mau? Hồi nào? Xin cho biết. Rất biết ơn.

Hôm nay, câu hỏi này, lại được gửi đến đấng bậc hiền lành, của Hội thánh Sydney, là đấng bậc vị vọng rất John Flader, của tờ The Catholic Weekly, có câu trả lời rất nhanh và gọn, như sau:

“Lễ Các Thánh, có bề dày lịch sử, rất sâu. Dày và sâu, nên đã hớp hồn lòng người từng chiêm ngắm, khi về với Giáo Hội, thời tiên khởi.

Theo phụng vụ, vị thánh đầu tiên được Giáo hội mừng kính, là các vị tử đạo. Trong đó, phải kể đến các thánh Tông đồ, tử vì Đạo. Thế kỷ đầu, ta thấy Giáo Hội mừng kính ngày giỗ các thánh tử đạo tại chính nơi các vị, bị tuẫn tiết. Thế nhưng, bốn thế kỷ sau, giáo phận khác cũng san sẻ niềm vinh danh tôn kính hài cốt các vị tử đạo cùng với giáo phận khác. Và việc mừng được tổ chức chung một ngày ta mừng kính các vị tử đạo.

Dù không có hài cốt của các vị tử đạo khi mừng kính, các giám mục địa phận hồi đó cũng đã cho phép mừng lễ thánh tử đạo nào đó, tại giáo phận riêng của các ngài.

Thời bách hại, dưới chế độ hà khắc của Hoàng đế Điôclêtô hồi đầu thế kỷ thứ Tư, con số các vị tử đạo lên quá cao, nên không thể mừng mỗi vị riêng từng ngày được, Giáo hội đành thiết lập ngày lễ chung cho thánh tử đạo nào không có ngày mừng riêng.

Ở Antiôka, lễ này được mừng kính vào Chúa Nhật ngay sau lễ Hiện Xuống, tức sau lễ Ngũ Tuần. Cuối thế kỷ thứ Tư, thánh Êphrêm và thánh Gioan Krizốttômô cũng nhắc đến lễ kính này. Ở phương Tây, hồi thế kỷ thứ V, thánh Maximus thành Turinô cũng đã vinh danh các thánh tử đạo vào ngày Chúa Nhật sau lễ Hiện Xuống.

Lúc đầu, chỉ các thánh tử đạo và thánh Gioan Tẩy Giả, là những vị được minh chứng lòng đạo rất thánh, mới được mừng kính vào những ngày lễ riêng biệt, như thế. Nhưng về sau, các thánh khác cũng dần dà được thêm tên vào danh sách của các thánh. Đặc biệt, là các vị thánh hiển tu thuộc Giáo hội Đông phương lẫn Tây phương, được mừng kính. Từ đó, danh xưng “hiển thánh” được đặt ra để gọi bất cứ vị thánh nào không là tử đạo, theo nghĩa rộng.

Với Giáo hội Đông phương, các thánh tiên khởi được công chúng mừng kính và liệt vào bậc “hiển thánh” sau thời kỳ Giáo hội bị bách hại, có thánh Antôn (chết vào năm 356), thánh Hilariô (chết năm 371), thánh Athanasiô (chết năm 373).

Ở phương Tây, các vị hiển thánh tiên khởi gồm có thánh Sylvétơ (chết năm 355), thánh Matinô thành Tua (năm 397), thánh Sêvêrô (năm 397), thánh Âu-tinh (năm 430) và thánh Apôlinariô (thế kỷ thứ V). Cũng từ đó, con số các thánh hiển tu tăng nhanh đến năm 411 đến độ Giáo hội đã mừng kính toàn thể các thánh chung vào một ngày theo lịch phụng vụ Cađê, là ngày Thứ Sáu sau Phục Sinh.

Lần đầu tiên phụng vụ đề cập đến việc mừng kính các thánh hiển tu vào ngày 1 tháng 11 dường như được công bố vào thời Đức Grêgôriô III (731-741). Vào năm 732, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô III cung hiến nguyện đường tại Đền Thánh Phêrô dâng lên “các thánh Tông đồ, tử đạo, hiển tu và toàn thể các người công chính, thánh thiện đã an nghỉ trên khắp thế giới”. Đồng thời định ra lễ tưởng kính vào ngày 1 tháng 11. Lễ kính vào ngày này, đã được phổ biến qua nước Anh và nước Đức, ngay sau đó.

Thế kỷ sau, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IV (827-844) đã mở rộng cho Giáo hội khắp hoàn vũ để mừng kính các thánh vào cũng ngày 1 tháng 11, mỗi năm. Vào thế kỷ thứ IX và X, lễ Các Thánh được đưa vào “Sách các Phép” với tên gọi bằng tiếng Latinh Natale Omnium Sanctorium, coi như Sinh nhật của toàn thể các thánh Nam nữ.

Lễ này long trọng đến độ được bắt đầu bằng một nghi thức gọi là Buổi Lễ Vọng, khởi từ thời Đức Giáo Hoàng Sixtô IV (1471-1484) có tuần bát nhật hẳn hòi. Buổi lễ Vọng, hoặc nghi thức cử hành phụng vụ vào trước ngày lễ chính, sau này được mọi người nhớ đến bằng tên gọi rất quen thuộc là Halloween, tức tập tục cho giới trẻ vào ngày 30/10 trước đó, có đốt pháo, có hoá trang mặt nạ áo phủ mang hình thù quỷ ma, xương cốt, có lồng đèn bằng “bí ngô”, rất vui và rất nhộn, chiều hôm trước.

Cả nghi thức Lễ Vọng và Bát nhật Các thánh đều bị huỷ bỏ từ năm 1955. Thành thử, truy tầm lịch sử, ta thấy Lễ các thánh quả là có bề dày sâu lắng từ thế kỷ thứ VIII, trở về đây.

Ngày nay, Giáo hội cử hành mừng kính lễ này, là để ứng đáp lại lòng ao ước của mọi người được mừng và được kính toàn thể các thánh nam nữ trên trời. Nhất là các vị hiển thánh không có ngày riêng biệt để mừng kính.

Lễ hội này, mừng kính “triều thần đông đúc không biết cơ man nào mà kể” (Kh 7: 9), về các vị hiển thánh trên Thiên quốc. Và cũng để nhắc nhở con dân nhà Đạo, rằng: tất cả những ai được thanh tẩy trong Thánh Thần, đều được mời gọi sống lành thánh, đầy tràn yêu thương. Lành thánh. Rất khuyến khích. (John Flader, The Catholic Weekly 1/11/2009 tr. 10)

Yêu thương. Lành thánh. Như đấng bậc nữ lưu Têrêxa Calcutta rất lành và rất thánh, từng kêu gọi mọi người, ở đâu đó. Ở cả, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, với những lời và những lẽ, rất đáng yêu. Như sau:

“Xin các bạn, hãy cứ nguyện cầu cho chị em chúng tôi đừng bao giờ làm hỏng công cuộc. Hỏng công cuộc, mà Thiên Chúa đã giao phó cho chúng tôi, cho cả chúng ta nữa. Xin nguyện cầu, để các bạn cũng như tôi, ta không dùng đến những quả bom/quả pháo thuần thục không gian, cùng trái đất. Nhưng, hãy dùng tình yêu thương để thắng thế gian, thắng trái đất. Ngõ hầu đưa thế gian về với Tin Mừng của Đức Kitô. Mỗi người, hãy đứng lên mà công bố với hết mọi người trên thế gian, rằng: Thiên Chúa vẫn hằng yêu mến thế gian. Đến muôn đời. (Labastida, sđd)

Làm được như Mẹ Têrêxa thành Calcutta yêu cầu, những bạn và tôi, ta cũng sẽ trở thành người lành và cũng thánh, không kém ai. Bởi, chỉ có thể gọi các đấng bậc mọi người là lành và thánh, là khi tôi và bạn, khi ta trải dàn được Tình Yêu Thiên Chúa, cho mọi người. Trong thế gian. Chốn điạ cầu. Ở đây. Lúc này. Mãi về sau.

Trần Ngọc Mười Hai

vẫn hằng cầu cho bạn

cho tôi

có quyết tâm

yêu thương ấy.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com

Saturday, 28 November 2009

“Nghe vang khúc nhạc triền miên lắng, như mơ hồ”

Nghe vang những lời ca trìu mến như áng thơ…

(Dương Thiệu Tước – Hội Hoa Đăng)

(Lc 3: 16)

Rất nhiều lúc, bần đạo những muốn thú thật với bạn bè gần xa, rằng: vẫn còn đó nơi mình, một cố tật. Cũng cố gắng đấy, vậy mà chưa bỏ. Cái cố tật, mà bần đạo thường vướng mắc cũng chỉ là dị tật cổ xưa, thích nghe nhạc. Nhạc trữ tình, lình xình. Rất tiền chiến. Thính phòng. Cố tật, là cứ cố đeo đuổi buổi “Hát cho nhau” ở xóm làng miền Tây Sydney. Vắng vẻ. Khiêm tốn. Những 3 năm.

Nghe nhạc, bần đạo thấy văng vẳng ở trong đầu, dòng thác lũ có chân trời vần vũ những thi ca. Âm nhạc. Mà không chán. Bởi không chán, nên ý/lời nhiệt náo hát mãi năm xưa, tiếp tục thấy:

“Vui, vui tiếng đàn trầm ngân hoà bao niềm nhớ

Tình nhạc tha thiết, tình đàn lưu luyến

Nhạc và thơ kết duyên…” (Dương Thiệu Tước – Hội Hoa Đăng)

À thì ra, cố tật mà bần đạo mắc phải, chỉ là: thi ca/âm nhạc, những kết duyên. Duyên vui. Thâm trầm. Tha thiết. Tha và thiết, đến độ bần đạo cứ chập chờn niềm nhung nhớ. Cứ lơ mơ/lờ mờ, ý-lời/âm hưởng rất thi ca/âm nhạc quyện vào nhau, nghe như duyên kiếp. Kết liền. Hội Hoa Đăng.

Thêm cố tật khác của bần đạo, là: cứ đem ý/lời “nhạc và thơ rất kết duyên” của Thầy Chí Thánh ra, mà luận phiếm. Phiếm nhè nhẹ. Sương sương. Để, dân con Đạo mình rồi sẽ miễn lỗi và đại xá cho tội tày trời này. Xá rồi, bần đạo xin phiếm tiếp.

Nỗi niềm rất phiếm của bần đạo hôm nay, là muốn đệ đạt với bạn bè/người thân, đôi ba ý nghĩ “không có gì mà ầm ỹ”. Cũng chẳng có gì phải bận tâm. Cứ sương sương đại để như một thoáng mạn đàm, cho kín giấy. Vậy thì, bần đạo bắt đầu bằng câu truyện tiếu lâm, được đức thày thuộc giống giòng hào kiệt con nhà “Mít” kể lại chút ít một dẫn nhập bài chia sẻ, ở nhà thờ xứ họ Sydney. Chủ Nhật hôm ấy ngày “N”, tháng “T”, năm Hai nghìn lẻ chín, nó thế này:

“Các cụ bảo: có tiền mua tiên cũng được. Được nhà được cửa, nhưng không được mái ấm/cơ ngơi, cho chính mình.

Bọn trẻ nói: Tiền là tiên là Phật, lật đật xuống phố mua được đồng hồ, nhưng chẳng được thời gian.

Và trẻ/già,cứ phán tiếp: Tiền, là sức bật tuổi trẻ, có nó ta mua được cả thuốc men, bon chen nhiều ống chích, nhưng không thể mua lấy sức khoẻ.

Tiền, là sức khoẻ rất tâm linh, có nó người người mua sách mua vở, nhưng nào đã mua được kiến thức. Tiếng tăm. Lòng kính trọng. Từ, người khác. Điều này, cũng dễ hiểu. Dễ, như ta hiểu, rằng: nhiều người vốn ưu tư khốn khó nỗi bạc tiền. Bởi thế nên, xin đề nghị: quý vị cứ đưa thứ tiền bạc nào gây khó chịu nhất cuộc đời. Cho tôi. Tôi sẽ chịu khó mang nó về, để quý vị không còn khó khăn với cằn nhằn, gì nữa sốt. Có điều là, tôi chỉ thích tiền mặt chứ không thích cổ phiếu ngân hàng, sổ nợ của ai đó.” (xem The Catholic Weekly 25/10/2009, tr.5)

Tiền, có là tiên là Phật, thì thật sự cũng chẳng tạo niềm an vui chan hoà, nhà nghệ sĩ hát:

“Niềm vui chan chứa,

bao tình thắm dâng chan hoà

Lòng ngập yêu thương,

rộng bao la như trùng dương.” (Dương Thiệu Tước – bđd)

Dâng chan hoà, còn là tâm thức đầy thơ/nhạc, chốn Đạo/đời. Tâm thức, mà nghệ sĩ ở trên còn gói ghém thành giòng chảy, đầy chữ nghĩa. Như sau:

Nhạc và thơ kết duyên

Nhịp nhàng ca múa chập chờn đôi lứa,

Mờ mờ trong bóng hoa.” (Dương Thiệu Tước – bđd)

Với nhà Đạo, nhạc và thơ kết duyên. Vẫn, được diễn tả ở nhiều địa hạt. Địa hạt, của Nước Trời. Địa hạt, của nhiệm tích thiết thân với con người. Như Thanh tẩy. Nhiệm tích gia nhập Nước Trời, nhiều trẻ bé. Kể cả bậc cao niên. Trọng tuổi. Sống đời cộng đoàn Nước Chúa, với tâm tư đồng thuận, về mọi thứ. Tâm tư, vương vấn chút gượng ép những thắc mắc. Hỏi han. Vấn nạn. Như tâm tình người nhà Đạo, bộc bạch bằng điện thư. Như sau:

“Mỗi tuần, ở nhà thờ, tôi thấy các cha/thầy vẫn thanh tẩy cho bầy trẻ nhỏ, mới vừa sinh. Xin giải thích cho biết: sao ta cứ tẩy và rửa cho trẻ bé, chưa biết gì? Làm thế giúp được gì cho bản thân các em? Cả bậc cha mẹ của các em nữa? Có người còn hỏi: rửa tội cho trẻ nhỏ, nên rửa vào lúc nào, là trễ nhất? (Xin được giữ kín tên tuổi)

Một lần nữa, điện thư tham vấn, ở giáo phận “đàng trong” Sydney, vẫn trực chỉ gửi đến đấng bậc nay-không-còn-trẻ-nữa, nhưng vẫn có trọng trách phản hồi, lối sống Đạo, như sau:

“Trước hết, xin bắt đầu bằng phần phân tích tại sao ta nên rửa tội cho hết mọi người, bất kể tuổi tác, lớn/bé. Chí ít, là tẩy rửa cho trẻ sơ sinh, như anh/bạn vừa hỏi. Sau đó, sẽ xin hầu tiếp anh/bạn các câu sau.

Phép rửa gồm hai động tác chính. Cả hai, đều biểu trưng bằng việc sử dụng nước. Thứ nhất, bằng việc trầm mình trong nước hoặc rưới nước lên đầu, động tác này biểu trưng cho việc tẩy rửa phần linh hồn, khỏi tội nguyên tổ. Theo ngôn từ sách “Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, ta có được giải thích như sau: “Nhờ thanh tẩy, mọi lỗi phạm đều được thứ tha. Cả tội ban đầu của tiên tổ, cho đến lỗi lầm mình vướng mắc. Ngõ hầu giúp ta thoát khỏi hình phạt kéo đến do các lỗi phạm khác nhau, mình mắc phạm. Với người đã tái sinh nhờ vào thanh tẩy, không gì khả dĩ ngăn chặn người ấy xa rời Vương Quốc Nước Trời. Ngay cả tội nguyên tổ của Adong hoặc lỗi lầm mình mắc phạm, là hậu quả của sơ xuất, tức động tác nghiêm trọng khiến ta xa rời Chúa.” (GLHTCG #1263)

Khi tẩy rửa mọi vết nhơ tội lỗi khỏi phần linh hồn, kể cả lỗi lầm nguyên tổ đã hằn in dấu ấn lên trẻ nhỏ, phần linh hồn đã trở nên hoàn toàn thanh trong. Và từ đó, sẵn sàng tiến vào chốn thiên đường của Chúa.

Tiếp đến, giống như nguồn nước, cần thiết cho cuộc sống con người thế nào, thì phép Thanh tẩy cũng chuyển tải sự sống của Thiên Chúa đến với linh hồn người lĩnh nhận. Lĩnh nhận ơn thánh hoá, cùng với đặc ân/ân sủng Chúa Thánh Thần ban tặng. Có Ba ngôi Thiên Chúa đến ngự trị.

Không gì lành thánh/quý giá hơn, dành ban cho người nhận lãnh, cho bằng hồng ân ấy. Chính đây là lý do tại sao ta cần thanh tẩy hết mọi người. Còn, vấn đề tại sao ta thanh tẩy cho cả trẻ thơ, khi bé không biết chút gì về việc làm ấy? Đơn giản, là vì nhiệm tích thanh tẩy thần năng thánh hoá cách độc lập với người nhận lãnh.

Theo ngôn ngữ của truyền thống Giáo hội, thì nhờ có thanh tẩy, nhiệm tích thánh tác động theo cách mà người xưa gọi là “ex opere operato”, tức: tác dụng hiệu quả “là vì việc ấy do ta thực hiện.” (GLHTCG #1128). Trẻ thơ khi lĩnh nhận phép thanh tẩy, dù không chứng kiến những gì được thực hiện cho em, nhưng Phép Thanh tẩy vẫn tạo thành quả tuyệt vời đối với linh hồn của em, từ khi nhận lãnh.

Vì lý do đó, Hội thánh vẫn duy trì nhiệm tích thanh tẩy cho trẻ nhỏ. Thánh Âu-tinh có lần nói: thực hiện Thanh tẩy cho con trẻ, là công việc được thực hiện từ thời các thánh tông đồ: “Mẹ Thánh Giáo Hội lâu nay vẫn có Thói quen Thanh tẩy trẻ nhỏ và không bỏ bê hoặc coi đó là việc dư thừa, vô bổ. Trái lại, Hội thánh vẫn làm việc này với niềm tin chắc chắn rằng công việc vẫn tiếp diễn từ thời các thánh tông đồ.” (Công tác Thông thường theo Truyền thống #10, #23. #39)

Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo còn nói về truyền thống này rõ như sau: “Thực thi việc Thanh tẩy cho trẻ nhỏ là truyền thống khó bỏ của Hội thánh. Bằng chứng rất rõ của nghi thức này vốn có từ thế kỷ thứ hai, mãi đến hôm nay. Nghi thức này, xuất hiện từ thời các thánh Tông đồ lên đường rao giảng Lời Chúa. Khi mọi người trong nhà đã lĩnh nhận nhiệm tích Thanh tẩy, thì khi ấy, cả trẻ nhỏ cũng được hưỏng ơn lành của Chúa, cũng như thế.” (GLHTCG #1252)

Về câu hỏi, rửa tội cho con trẻ có nên thực hiện ngay sau khi bé chào đời không? thì trong Giáo luật có điều khoản nói rất rõ: “Các bậc cha mẹ, buộc phải cho con em mình được chịu phép rửa vào tháng đầu, sau khi sanh. Nên rửa tội cho bé càng sớm càng tốt. Trước đó, cũng nên tiếp xúc với linh mục chánh xứ để xin cho con/em mình được chịu phép rửa, đồng thời cũng nên chuẩn bị cho các em được lĩnh nhận nhiệm tích này.” (Giáo luật số 867 #1)

Ở đoạn sau đó, cũng có viết: “Nếu thấy con trẻ có nguy cơ bị chết yểu, thì nên đưa bé đi chịu phép rửa tội ngay lập tức, không được chậm trễ.” (Giáo luật số 867 #2)

Sao vội vã như thế? Đơn giản, là vì phép rửa tạo nhiều điều tốt lành cho phần linh hồn của trẻ. Vì thế nên, trẻ phải nhận lãnh ơn cao trọng này càng sớm càng tốt. Đôi lúc, bậc cha mẹ có khi cũng phải chờ vài ba tháng mới cho con/em mình rửa tội vì còn chờ người thân từ nơi xa, đến dự. Mặc dù, cha mẹ vẫn muốn họ hàng bà con mình có mặt vào buổi lễ quan trọng ấy, cho nên hãy thực hiện càng sớm để con/em mình nhận lãnh ơn lành Thanh tẩy, sau khi sinh.

Nhiều trường hợp cho thấy, con/em mình dễ bị chết yểu, dù các cháu vẫn đang khoẻ. Nên hiểu rằng, nỗi buồn mất con của bậc cha mẹ đã quá lớn, cũng không nên thêm vào đó, nỗi buồn “không kịp rửa tội cho con”. Dĩ nhiên, ta vẫn biết con trẻ chưa rửa tội vẫn được Chúa rước thẳng vào Vương Quốc của Ngài. Nhưng, hy vọng dù lớn lao, vẫn không bằng xác tín là cháu đã được rửa tội đúng phép. Rất đúng đạo. (x. John Flader, The catholic Weekly, 25/10/2009, tr. 10)

Về thanh tẩy sớm/muộn, cũng nên qui chiếu Tin Mừng thánh Luca, qua đó Chúa nói:

“Tôi làm phép rửa cho anh em trong nước,

nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến,

tôi không đáng cởi quai dép cho Người.

Người sẽ làm phép rửa cho anh em

trong Thánh Thần và lửa.”

(Lc 3: 15-16)

Được rửa trong Thánh Thần và lửa, còn được hiểu theo cung cách chú giải của thần gia Kinh thánh, thế kỷ trước:

“Nước và thanh tẩy trong Thánh Thần, tức báo đến thời ở dưới sự hiện thực của Thần Khí và Đấng viên thành vạn sự. Nhưng, vừa tỏ vừa ẩn, Thần Khí dưới hình bồ câu. Đấng viên thành là một người chịu thanh tẩy giữa các kẻ tội lỗi. Hai nhân vật đó (tức Gioan và Đức Giêsu) liên kết. Và, đó là dấu hiệu thời viên thành đã hé rạng, tuy còn ở trong bí ẩn của Thiên Chúa, nhưng nhất thiết sẽ thành sự.” (Lm Nguyễn Thế Thuấn, CssR Tin Mừng Nhất Lãm, bản in nội bộ tr.119)

Thật sự, thì việc thanh tẩy cho trẻ nhỏ hay người lớn, là thực thi điều Chúa uỷ thác. Thực thi, như một mời gọi cộng tác vào sự Thanh tẩy bằng “Máu”, đúng như có Giáo sư Kinh thánh Nguyễn Thế Thuấn ở trên, có viết tiếp:

“Thanh tẩy tại sông Yorđan, được thực hiện đầy đủ trong thanh tẩy bằng máu (Mc 10: 38; Lc 12: 50), sự chết trên thập giá. Thanh tẩy Hội thánh, là thanh tẩy trong sự chết và sống lại của Chúa Kitô, và đã được thành hình theo mẫu thanh tẩy của Chúa Yêsu tại sông Yorđan, và cốt là để được chịu ơn huệ cánh chung, là Thánh Thần.” (Cv 2: 38), (x. Lm Nguyễn Thế Thuấn sđd, tr. 120)

Thành thử, ý/lời bậc hiền nhân đã tỏ bày, vẫn được quyện vào với thơ/nhạc ở đời người. Một đời, có người nghệ sĩ luôn se kết. Se và kết, là để bạn bè người thân, đừng quên lãng. Thế thì, để khỏi lãng quên những ý/lời của nhạc và thơ, cũng nên đọc truyện kể nhè nhẹ sương sương, ở bên dưới:

“Truyện kể rằng:

Trên chuyến bay đường dài hôm ấy, một khách lạ -dáng dấp giống người nhà Đạo, rất chững chạc- chợt nhận ra cô bé ngồi cạnh còn khá trẻ, nhưng đã biết tập trung tâm hồn, để đọc sách. Khách lạ, bèn lân la vào đề câu chuyện:

-Này cô bé. Ta nói chuyện với nhau một chút có được không? Tôi vẫn được bảo là: nếu ở trên máy bay mà ta nói chuyện với người ngồi cạnh, sẽ thấy thời gian qua mau. Đi rất nhanh.

-Vâng! thế bác muốn cháu nói về vấn đề gì đây?

-Chuyện gì cũng được. Đề tài đâu quan trọng. Tôi muốn cô cho biết cô nghĩ thế nào về một vài chuyện đạo; như: chuyện người lớn thắc mắc về bí tích rửa tội, hoà giải, hôn nhân, thêm sức, vv. Thế cô thích mình nói chuyện về đề tài gì?

-Vâng. Đề tài nào cháu cũng chịu nghe hết đó! Nhưng, trước khi bàn về chuyện nghiêm túc, đứng đắn, cháu xin hỏi một câu ngắn. Bác có biết là ba con thú lớn xác như: ngựa, bò, và nai cùng ăn một thứ là cỏ thôi, mà sao nai kia lại sản xuất ra thành phẩm rất tốt cho nhà nông, theo hình dạng khác nhau. Mầu sắc khác nhau? Sao thế hả bác?

-Nói thật với cô, “goa” đây chẳng khi nào nghĩ về chuyện ấy. Chỉ lo chuyện Đạo, thôi.

-Chuyện đơn giản có thế mà bác không nghĩ, thì sao các người lớn lại cứ thắc mắc về chuyện đạo đức/tẩy rửa làm gì! Vậy sau đây, xin phép bác cho cháu được tiếp tục đọc sách. Cháu thấy thời gian sẽ qua mau lắm, nếu mình không đọc cái gì cho vui lại giết thì giờ chờ đợi, thì thật uổng. Phải không ạ? ”

Nghe kể, hẳn bạn cũng như tôi, ta thật chẳng biết ai khôn ai khéo, hơn ai. Người già hay đám trẻ? Hoặc, già/trẻ lớn/bé, đều như nhau. Như, các cụ thường nói: “một già một trẻ, như nhau”. Như nhau, là giống nhau về cả thể xác lẫn tinh thần. Như nhau, không có nghĩa là có cùng một ưu tư/thắc mắc về những chuyện giản đơn, “sống trên đời”. Tự do. Không câu nệ. Chẳng thắc mắc, gì nhiều.

Ưu tư/thắc mắc quá nhiều về chuyện “tẩy rửa”, mà chẳng gia nhập “hội Hoa Đăng”, có nhạc có thơ, rất tình tiết. Rất tha thiết, với ý/lời mà người nghệ sĩ hôm nay kết thúc bản ca ở trên, rằng:

“Cùng nhịp ca múa trong đêm thâu

yêu nhạc thanh tân vui hội hoa đăng.” (Dương Thiệu Tước – bđd)

Vui hội hoa đăng, là vui với Nước Trời có trẻ nhỏ. Có bậc trưởng thượng. Nhập Hội ở trần gian. Hăng say. Tha thiết như người cùng nhà Hội thánh. Rất hoa đăng. Lễ hội. Ở mọi nơi. Mọi tuổi.

Trần Ngọc Mười Hai

Cứ hăng say gia nhập

hội Hoa Đăng Tẩy Rửa rất thánh

từ bao giờ. Đâu cần hỏi.

(xem thêm các bài khác, xin mời vào www.suyniemloingai.blogspot.com

hoặc: www.tranngocmuoihai.blogspot.com;

hoặc: www.giadinhanphong.blogspot.com